Tây Nguyên là vùng
cao nguyên gồm năm tỉnh: Kon Tum, Gia
Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng. Đến
với Tây Nguyên, du khách không những
được "chiêm ngưỡng" vẻ đẹp kỳ vĩ của núi,
thác nước, nhà mồ.. mà còn được hòa mình
vào cuộc sống thường nhật giản dị của bà
con nơi đây.
Trong sinh hoạt hàng ngày của đồng bào
Tây Nguyên, ngọn lửa trong bếp chính của
ngôi nhà dài không bao giờ tắt. Ban đêm,
sau bữa tối, các gia đình quây quần bên
bếp lửa cùng dệt thổ cẩm, làm đàn tranh,
chuông gió và thổi khèn, hát đối giữa bố
mẹ và con cái. Sáng ra, ngọn lửa theo
đồng bào lên rẫy. Trước khi tra hạt
giống, trên nương bao giờ cũng có một
ngọn lửa được nhóm lên như một dấu hiệu
cầu mùa của chủ nhân trước các vị thần
rừng, núi, sông. Chiều xuống, trước khi
rời khỏi nương rẫy, ngọn lửa được vùi
lại trong túm tro đặt lên một hòn đá để không
bùng lên gây cháy. Đây cũng là dấu hiệu
để báo cho người khác biết nơi ngự trị
của thần lửa. Vào lúc làng có lễ, hội,
ngọn lửa lại được đốt lên ở vị trí trung
tâm để mọi người cùng nhìn thấy và mang
lễ vật đến chung vui cộng đồng.
 |
| Bếp
lửa không bao giờ tắt trong các
ngôi nhà dài. Ảnh: Nguyên
Thùy |
Cùng với lửa, rượu giúp cho ánh mắt người
thiếu nữ diễn đạt được lòng mình nhiều
hơn. Những dãy ché rượu dài tít tắp với
hàng người nối nhau ngồi vít cong cần để
uống ở Tây Nguyên là hình ảnh đẹp đã đi
vào văn học, nghệ thuật. Đồng bào không
uống rượu một mình mà cùng bạn bè để
chia sẻ tình cảm vui buồn. Rượu đối với đồng
bào còn là lễ vật mừng cưới, chào mừng
đứa trẻ chào đời. Không ít các vụ xích
mích, mâu thuẫn cộng đồng được hóa giải
bằng những cuộc "thương thuyết rượu".
Nếu bữa cơm ngày thường của đồng bào Tây
Nguyên chỉ gạo tẻ với thức ăn nấu từ các
loại rau rừng và cá dưới sông, thỉnh
thoảng cải thiện bằng thịt thú rừng săn
bắt được, thì vào ngày lễ, Tết, cơm tẻ
được thay bằng cơm nếp nấu ống tre tươi
đốt trên lửa, tạo nên hương vị đặc biệt,
gọi là cơm lam.
Cồng chiêng không thể thiếu đối với đồng
bào Tây Nguyên. Đây là biểu hiện sự giàu
có của từng gia đình, làng bản. Giá trị
của cồng chiêng được thể hiện qua tiếng
ngân vang của nó, những tiếng cồng vượt
xa năm, bảy ngọn núi... Thường những
chiếc cồng đồng có pha vàng hoặc bạc vì
vậy âm thanh của nó rất hay và được xem
là vật quí của người Tây Nguyên. Mỗi bộ
cồng chiêng giá trị tương đương với 20 -
30 con trâu.
Thông qua các lễ hội, tập tục, sinh hoạt
hằng ngày, cồng chiêng đã trở thành một
phương tiện chuyển tải thông điệp của
cộng đồng. Nó không thể thiếu trong cuộc
sống, thấm sâu vào máu thịt và là linh
hồn cho những sinh hoạt văn hoá.
Đến với Tây Nguyên, du khách không những
được nghe âm thanh cồng chiêng, uống
rượu cần bên bếp lửa mà còn được xem
những ngôi nhà mồ có mặt khắp các tỉnh. Theo
phong tục tang lễ của một số đồng bào
Tây Nguyên, sau khi chôn người chết,
người ta làm một chòi nhỏ sơ sài trên
nấm mộ để che mưa che nắng cho người
chết. Trong chòi thường đặt một số đồ
dùng của người đã khuất. Sau vài ba năm,
thân nhân gia đình người chết phá nhà mồ
cũ, dựng nhà mồ mới khang trang hơn,
kiên cố hơn, trang trí tượng gỗ, có hàng
rào xung quanh nhà mồ.
Tục phá chòi, dựng nhà mồ mới của một số
tộc người ở Tây Nguyên thường được tổ
chức vào mùa xuân (mùa khô) và được coi
như một lễ hội lớn (lễ bỏ mả) của dân
bản. Người ta đưa đến nghĩa địa rượu,
thịt, cá, các vật cúng tế. Thân nhân
người quá cố và dân bản cùng vui mừng,
ăn uống, nhảy múa trong một hay nhiều
ngày bên nhà mồ để chia biệt vĩnh viễn
người quá cố.
Tục bỏ nhà mồ theo quan niệm sau sự kiện
này thì người sống hết trách nhiệm trông
nom, thờ cúng cho người quá cố và được
giải thoát mọi ràng buộc, nếu còn trẻ có
thể lấy vợ (hoặc chồng) khác; còn người
quá cố sẽ được đầu thai sang kiếp khác.
Đất Việt ghi lại một số
hình ảnh phong cảnh và sinh hoạt của
đồng bào Tây Nguyên:
Lê Phan (tổng hợp)
Ảnh: Nguyên Thùy